I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG
1. Nền tảng tư tưởng của Đảng – kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đây là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng, được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn lịch sử đấu tranh của nhân loại và được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chính sự kiên định ấy đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Hơn 90 năm qua, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của dân tộc. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam từng bước vươn lên trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển năng động, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Những thành tựu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng – an ninh và đối ngoại chính là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới có nhiều biến động phức tạp, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ lý luận chính trị mà còn là bảo vệ niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, bảo vệ sự ổn định chính trị và định hướng phát triển của đất nước.
2. Không gian mạng và những thách thức mới
Sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và công nghệ số đã tạo nên bước chuyển lớn trong đời sống xã hội. Người dân có thể tiếp cận thông tin nhanh chóng, kết nối thuận lợi và mở rộng giao lưu văn hóa với thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, không gian mạng cũng trở thành môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng và Nhà nước. Thông qua các nền tảng mạng xã hội, nhiều thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc, kích động được lan truyền với tốc độ nhanh chóng.Các đối tượng phản động thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, chủ quyền lãnh thổ, đời sống khó khăn của người dân để kích động tư tưởng chống đối, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.Đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới như Lũng Cú, nơi trình độ dân trí còn chưa đồng đều, khả năng tiếp cận thông tin chính thống còn hạn chế thì nguy cơ bị tác động bởi các thông tin xấu độc càng lớn hơn.Một số đối tượng đã lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền mê tín dị đoan, kích động ly khai dân tộc hoặc xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều đó đặt ra yêu cầu phải chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng; nâng cao nhận thức chính trị và kỹ năng số cho người dân; đồng thời xây dựng lực lượng đủ mạnh để kịp thời phát hiện, đấu tranh và phản bác các quan điểm sai trái.
3. Quan điểm của Đảng về xây dựng “thế trận lòng dân”
Đảng luôn khẳng định Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách đều hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, “thế trận lòng dân” giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận với chính quyền và có cuộc sống ổn định thì mọi âm mưu chống phá sẽ khó có cơ hội tồn tại. Ngược lại, nếu đời sống khó khăn kéo dài, thiếu sự quan tâm chăm lo, người dân dễ bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc và kích động. Đối với các địa bàn biên giới như Lũng Cú, xây dựng “thế trận lòng dân” không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn trực tiếp giữ gìn chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Người dân nơi biên giới không chỉ là chủ thể phát triển kinh tế mà còn là lực lượng quan trọng trong bảo vệ đường biên, cột mốc và giữ gìn an ninh trật tự.
II. THỰC TIỄN ĐẶC THÙ TẠI XÃ LŨNG CÚ
1. Vị trí chiến lược nơi địa đầu Tổ quốc
Lũng Cú là xã biên giới, nơi có Cột cờ Lũng Cú – biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền quốc gia Việt Nam.
Đây là vùng đất địa đầu cực Bắc với địa hình chủ yếu là núi đá tai mèo hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn.
Người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Lô Lô và một số dân tộc khác.
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho vùng đất cực Bắc.
Không chỉ có vị trí quan trọng về quốc phòng – an ninh, Lũng Cú còn là địa bàn giàu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa.
Những năm gần đây, lượng khách du lịch đến Hà Giang nói chung và Lũng Cú nói riêng ngày càng tăng.
Điều đó tạo cơ hội phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra yêu cầu lớn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo đảm an ninh tư tưởng.
LÔ LÔ CHẢI
2. Đời sống kinh tế – xã hội của người dân
(Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cho vùng cao biên giới bằng nhiều chương trình mục tiêu quốc gia.
Hệ thống đường giao thông nông thôn từng bước được cải thiện; trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang hơn; điện lưới quốc gia và sóng viễn thông phủ rộng hơn trước.
Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân từng bước được nâng lên. Nhiều mô hình kinh tế mới như trồng cây dược liệu, chăn nuôi gia súc, du lịch cộng đồng đã giúp người dân tăng thu nhập.
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với mặt bằng chung cả nước.
Nhiều gia đình thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô và phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp truyền thống.
Một số hủ tục như tảo hôn, ma chay kéo dài, mê tín dị đoan vẫn còn tồn tại ở một số thôn bản. (Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
Những khó khăn đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng như công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân.
3. Những nguy cơ tác động đến tư tưởng người dân
Sự phát triển của internet và mạng xã hội đã mang lại nhiều cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân vùng cao.
Tuy nhiên, khi trình độ dân trí chưa đồng đều và kỹ năng tiếp cận thông tin còn hạn chế thì người dân rất dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin sai lệch.
Một số đối tượng xấu đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống khó khăn để tuyên truyền trái pháp luật, kích động tư tưởng chống đối hoặc gây chia rẽ cộng đồng.
Có những thông tin xuyên tạc chủ trương của Đảng và Nhà nước được lan truyền trên mạng xã hội nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân.
Ngoài ra, một số hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan cũng tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa và nhận thức của người dân. Điều đó cho thấy công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại địa phương phải được thực hiện đồng bộ, gắn với nâng cao dân trí, phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa mới.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC
1. Công tác tuyên truyền được đổi mới
Những năm qua, cấp ủy và chính quyền xã Lũng Cú đã đặc biệt quan tâm công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
Nội dung tuyên truyền ngày càng được đổi mới theo hướng gần gũi, thiết thực với đời sống người dân.
Nhiều hình thức tuyên truyền linh hoạt được triển khai như họp thôn, sinh hoạt chi bộ, tuyên truyền lưu động, hệ thống loa truyền thanh và mạng xã hội.
Đặc biệt, việc sử dụng tiếng dân tộc trong tuyên truyền giúp người dân dễ hiểu, dễ tiếp cận hơn.
Thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng, người dân được giải thích rõ về chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời được hướng dẫn nhận diện các thông tin sai trái trên mạng xã hội.
2. Phát huy vai trò của người có uy tín
Già làng, trưởng bản và người có uy tín có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác giữ gìn đoàn kết cộng đồng.
Bằng uy tín và sự gương mẫu của mình, họ đã tích cực vận động người dân chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Nhiều hủ tục lạc hậu từng bước được xóa bỏ; tinh thần đoàn kết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân được nâng lên rõ rệt.
Các đảng viên trẻ, đoàn viên thanh niên cũng tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số và phát triển kinh tế.
3. Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố
Các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể tại địa phương ngày càng được củng cố vững mạnh.
Công tác xây dựng Đảng được chú trọng; chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng lên.
Đội ngũ cán bộ cơ sở ngày càng phát huy vai trò trong tuyên truyền, vận động Nhân dân và giải quyết các vấn đề phát sinh tại cơ sở.
Mối quan hệ gắn bó giữa chính quyền với Nhân dân được củng cố, góp phần tăng cường niềm tin của người dân đối với Đảng.
4. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Lực lượng Công an xã và Bộ đội Biên phòng đã phối hợp chặt chẽ trong công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Nhiều vụ việc phức tạp liên quan đến an ninh biên giới, tuyên truyền trái pháp luật được phát hiện và xử lý kịp thời.
Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh, thu hút sự tham gia tích cực của người dân.
(Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
Nhiều hộ dân tham gia tự quản đường biên, cột mốc và tích cực phối hợp với lực lượng chức năng trong bảo vệ biên giới.
5. Đời sống nhân dân từng bước nâng lên
Nhờ các chương trình giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới, diện mạo xã Lũng Cú có nhiều đổi thay tích cực.Nhiều tuyến đường giao thông được bê tông hóa; trường học và trạm y tế được đầu tư xây dựng khang trang.
Các mô hình du lịch cộng đồng phát triển mạnh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn
(Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
chuyển đổi mô hình sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi và trồng trọt.
Khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên thì niềm tin đối với Đảng và Nhà nước cũng ngày càng được củng cố.
IV. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ KHÓ KHĂN ĐẶT RA
1. Công tác tuyên truyền còn hạn chế
Mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng công tác tuyên truyền ở một số nơi vẫn còn mang tính hình thức.
Nội dung tuyên truyền chưa thật sự hấp dẫn, chưa phù hợp hoàn toàn với trình độ nhận thức của từng nhóm đối tượng.
Một số cán bộ cơ sở còn hạn chế về kỹ năng truyền thông và ứng dụng công nghệ số.
2. Khả năng “miễn dịch thông tin” của người dân còn thấp
Một bộ phận người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, dễ bị ảnh hưởng bởi các nội dung tiêu cực trên mạng xã hội.
Kỹ năng nhận diện tin giả và thông tin sai sự thật còn hạn chế.
Trong khi đó, các đối tượng xấu ngày càng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để lôi kéo và kích động.
3. Hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại
Một số hủ tục như tảo hôn, mê tín dị đoan, ma chay kéo dài vẫn tồn tại ở một số thôn bản.
Những hủ tục này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống văn hóa mà còn cản trở quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Việc thay đổi nhận thức và tập quán lâu đời của người dân cần có thời gian và sự kiên trì.
4. Điều kiện kinh tế còn khó khăn
Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, điều kiện sản xuất khó khăn và thiếu việc làm ổn định khiến đời sống của một bộ phận người dân vẫn còn nhiều vất vả.
Khi đời sống kinh tế chưa ổn định thì nguy cơ bị các đối tượng xấu lợi dụng càng lớn.
V. GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM GIAI ĐOẠN 2026 – 2030
1. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền
Cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền theo hướng gần dân, sát dân và phù hợp với đặc điểm văn hóa của từng dân tộc.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác tuyên truyền; xây dựng các video ngắn, chương trình truyền thanh bằng tiếng dân tộc và nội dung truyền thông phù hợp với thanh thiếu niên.
2. Nâng cao dân trí và kỹ năng số
Tăng cường phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường học vùng cao.
Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng internet an toàn; hướng dẫn người dân nhận diện và phản bác thông tin sai trái.
Đặc biệt cần chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.
(Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
3. Phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng – an ninh
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững; hỗ trợ người dân phát triển mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện địa phương.
Đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng – an ninh và giữ gìn chủ quyền biên giới quốc gia.
4. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh
Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số.
Nâng cao trình độ lý luận chính trị, kỹ năng dân vận và kỹ năng công nghệ số cho cán bộ.
Phát huy vai trò của đoàn viên thanh niên trong tuyên truyền và đấu tranh phản bác thông tin sai trái.
5. Củng cố “thế trận lòng dân”
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân vùng biên giới.
Kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị chính đáng của người dân.
Tăng cường đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân để tạo sự đồng thuận xã hội.
VI. GIÁ TRỊ THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC
Thực tiễn tại Lũng Cú cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là nhiệm vụ xa vời mà gắn chặt với đời sống hằng ngày của người dân.
Khi người dân có cuộc sống ổn định, được học tập, được chăm sóc y tế và được tiếp cận thông tin chính thống thì niềm tin đối với Đảng và Nhà nước sẽ ngày càng bền chặt.
Lũng Cú hôm nay không chỉ là biểu tượng chủ quyền quốc gia mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Việc giữ vững trận địa tư tưởng nơi biên cương có ý nghĩa
(Nguồn ảnh: Trang thông tin địa tử xã Lũng Cú)
đặc biệt quan trọng trong bảo vệ sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước.
Bài học lớn rút ra từ thực tiễn tại Lũng Cú là muốn bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia thì trước hết phải giữ vững “biên giới lòng dân”.
Đó chính là nền tảng để xây dựng khu vực biên giới hòa bình, ổn định và phát triển.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Lũng Cú – nơi địa đầu cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc – không chỉ là biểu tượng chủ quyền quốc gia mà còn là “pháo đài tư tưởng” nơi biên cương.
Việc giữ vững trận địa tư tưởng tại đây chính là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng chính trị, chủ quyền lãnh thổ và tương lai phát triển của đất nước.
Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nhận thức sâu sắc rằng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Đó không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là biểu hiện của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và khát vọng xây dựng một Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển bền vững./.
CHÚ THÍCH TRÍCH DẪN
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 180.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 165.
3. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 298.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 34.
6. Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Ban Tuyên giáo Trung ương (2022), Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
8. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), Báo cáo chuyển đổi số quốc gia năm 2024, Hà Nội.
9. Tỉnh ủy Hà Giang (2025), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Hà Giang, Hà Giang.
10. Lê Thị Chiên (2020), “Vai trò của đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 06/2020.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2022), Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), Báo cáo chuyển đổi số quốc gia năm 2024, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Lê Thị Chiên (2020), “Vai trò của đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 06/2020.
8. Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
9. Tỉnh ủy Hà Giang (2025), Báo cáo phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới huyện Đồng Văn, Hà Giang.
10. “Những vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, Trang thông tin Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
11. “Phát huy vai trò của báo chí cách mạng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
12. “Tiếp tục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW”, Cục Chuyển đổi số quốc gi