
Sau hơn một năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, câu chuyện ở Lũng Cú đã đi qua giai đoạn “sắp xếp lại”. Điều thực tiễn đặt ra lúc này là làm thế nào để bộ máy mới thực sự mạnh hơn, cán bộ làm việc hiệu quả hơn, quyền được giao đi cùng nguồn lực và những vấn đề nảy sinh từ cơ sở được phản hồi để chính sách tiếp tục hoàn thiện. Từ một xã biên giới, những câu hỏi ấy gợi mở vấn đề rộng hơn đối với quá trình vận hành chính quyền hai cấp.

Tuyên Quang công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về hợp nhất, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã (Ảnh Tư liệu).

Ngày 1/7/2025, ba xã Lũng Cú, Ma Lé và Lũng Táo hợp thành xã Lũng Cú mới. Địa giới được mở rộng, tổ chức Đảng được sắp xếp lại, đội ngũ cán bộ được bố trí lại và chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành.

Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Lũng Cú cùng nhân dân thực hiện nghi lễ chào cờ tại Cột cờ Quốc gia Lũng Cú, ngày đầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Nhưng nếu coi việc hoàn thành các quyết định tổ chức, bố trí nhân sự hay giảm đầu mối là điểm kết thúc của cuộc cải cách thì mới chỉ nhìn thấy phần dễ đo đếm nhất. Thực tế sau hơn một năm cho thấy câu hỏi khó hơn nằm ở phía sau: bộ máy mới có làm việc tốt hơn không? Người dân có được phục vụ thuận lợi hơn không? Những nhiệm vụ được chuyển xuống cấp xã có đi cùng đủ thẩm quyền và điều kiện thực hiện không? Đó là những câu hỏi Lũng Cú không thể trả lời bằng khẩu hiệu.
Trước sắp xếp, ba xã có ba hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể với những cách phối hợp, điều hành đã hình thành qua nhiều năm. Sau sắp xếp, hệ thống tổ chức Đảng được thu gọn từ 53 tổ chức xuống 29 chi bộ trực thuộc; 37 thôn được tổ chức lại còn 16 thôn. Những con số ấy cho thấy quy mô của cuộc sắp xếp. Nhưng chúng không tự nói lên chất lượng của bộ máy.
Chất lượng của bộ máy không nằm trên sơ đồ tổ chức, mà được nhìn thấy qua cách công việc được giải quyết ở cơ sở: thủ tục có được xử lý đến nơi, đến chốn; kiến nghị của người dân có được tiếp nhận và trả lời kịp thời; những vấn đề phát sinh ở thôn, bản có được tháo gỡ từ sớm; cán bộ có thực sự dám nhận việc khó, dám chịu trách nhiệm và theo việc đến cùng. Chính từ những việc tưởng như rất nhỏ ấy, hiệu quả của bộ máy mới được đo đếm rõ nhất.
Đây chính là điểm chuyển quan trọng mà Lũng Cú nhận ra sau một năm vận hành: tinh gọn tổ chức chỉ là điều kiện; hiệu quả hoạt động mới là mục tiêu.


Với địa bàn 95,2 km², hơn 15 nghìn dân, 12 dân tộc cùng sinh sống, hơn 30 km đường biên giới và 36 cột mốc quốc giới, Lũng Cú không phải địa bàn có thể giải quyết mọi vấn đề chỉ bằng nỗ lực của bộ máy cơ sở.

Đồng chí Phan Huy Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang dự Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại xã Lũng Cú, tháng 8/2026.
Sau khi không còn cấp huyện, nhiều nhiệm vụ được đặt trực tiếp lên cấp xã. Trách nhiệm vì thế rõ hơn, nhưng đồng thời yêu cầu về chuyên môn, nhân lực, hạ tầng và khả năng phối hợp cũng cao hơn.
Trần Đức Chung, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, nhìn từ thực tế điều hành cho rằng thay đổi lớn nhất không nằm ở tên gọi của các cơ quan, mà ở cách cấp xã phải tiếp nhận và xử lý công việc. Những việc trước đây có thể phối hợp qua cấp huyện nay phải chủ động giải quyết trong phạm vi thẩm quyền được giao.
Điều đó đặt ra một yêu cầu rất thực tế đối với quá trình hoàn thiện mô hình hai cấp: trao quyền phải đi cùng trao điều kiện thực hiện.
Nếu cấp xã được giao thêm nhiệm vụ nhưng thiếu cán bộ chuyên môn; được yêu cầu chuyển đổi số nhưng hạ tầng viễn thông ở vùng xa chưa ổn định; được giao trách nhiệm phát triển nhưng những vấn đề về giao thông, đất đai, đầu tư, thương mại biên giới vẫn cần nhiều tầng phối hợp để tháo gỡ, thì năng lực thực thi sẽ sớm chạm giới hạn.
Vì thế, những đề xuất của Lũng Cú về rà soát, bổ sung biên chế chuyên môn; có cơ chế điều động, luân chuyển cán bộ giữa các địa phương, giữa tỉnh về xã để khắc phục thiếu hụt cục bộ; đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông; hoàn thiện các phần mềm dùng chung… thực chất đều xuất phát từ cùng một vấn đề: cấp xã muốn chịu trách nhiệm thì phải có đủ khả năng để chịu trách nhiệm. Đó không phải câu chuyện riêng của Lũng Cú.

Nhìn từ những người đang làm việc và sinh sống ở Lũng Cú, có những vấn đề không thể giải quyết bằng một quyết định ở cấp xã.

Trao giải Cuộc thi Ý tưởng đối với sản phẩm nghề thêu Lô Lô Chải, tháng 6/2026.
Sùng Mí Nhù đưa tiếng khèn Mông lên các nền tảng trực tuyến, kết nối với khách hàng ở nhiều thị trường. Dìu Thị Hương tự xây dựng website quảng bá dịch vụ du lịch. Sùng Thị My đưa sản phẩm sáp ong, nhuộm chàm lên mạng xã hội. Những cách làm ấy cho thấy người dân vùng cao không thiếu ý tưởng và khả năng thích ứng với thị trường. Điều họ cần ở chính quyền, vì thế, không phải là làm thay.
Họ cần đường giao thông thuận lợi hơn để đưa hàng hóa ra thị trường; hạ tầng số đủ tốt để kết nối với khách hàng; cơ chế phù hợp để phát triển du lịch và thương mại biên giới; môi trường đầu tư đủ sức để những sáng kiến của người dân có thể lớn lên.
Ở đây xuất hiện một vấn đề có ý nghĩa chính sách: cùng với phân cấp cho cơ sở, cần có cơ chế để những vấn đề vượt quá thẩm quyền xã được chuyển nhanh lên cấp có khả năng giải quyết.

Giữa giá lạnh 0 độ C, những người thợ điện treo mình trên cao, bảo đảm đường điện, đường truyền trực tuyến thông suốt, phục vụ kết nối với tỉnh và Trung ương trong những ngày đầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Lũng Cú đã đề xuất nghiên cứu đầu tư, nâng cấp hạ tầng giao thông, hạ tầng số; tiếp tục hoàn thiện các điều kiện phát triển kinh tế biên giới và du lịch; có chính sách phù hợp hơn với địa bàn vùng cao, biên giới. Những kiến nghị ấy không xuất phát từ mong muốn “xin thêm” cho một địa phương, mà từ những giới hạn đã được nhìn thấy trong quá trình vận hành.
Quyết tâm của cấp xã không thể thay thế thẩm quyền và nguồn lực cần thiết để khắc phục một tuyến đường đã xuống cấp; những cuộc họp cũng không thể xóa vùng lõm sóng. Còn phát triển kinh tế biên giới đòi hỏi nhiều hơn năng lực điều hành ở cơ sở: đó là cơ chế, nguồn lực và những quyết định vượt quá thẩm quyền của cấp xã. Phân cấp càng sâu thì cơ chế phản hồi chính sách càng phải nhanh. Đây có lẽ là một trong những bài học đáng chú ý nhất từ thực tiễn Lũng Cú.

Có một vấn đề ít được nhìn thấy khi nói về sắp xếp bộ máy: điều kiện để bộ máy hoạt động. Hiện nay, trụ sở UBND xã Lũng Cú đặt tại thôn Thèn Pả, trong khi trụ sở Đảng ủy, HĐND và Ủy ban MTTQ Việt Nam xã ở thôn Ma Lé, cách nhau hơn 15 km. Phần lớn cơ sở vật chất được tận dụng từ các trụ sở cũ. Đây là giải pháp cần thiết trong giai đoạn đầu, nhưng về lâu dài đặt ra bài toán quy hoạch lại không gian hành chính phù hợp với địa giới mới.

Đồng chí Trần Quốc Vượng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, thăm, nói chuyện với cán bộ, nhân dân xã Lũng Cú trong những ngày đầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Từ thực tế đó, đề xuất nghiên cứu di chuyển trụ sở hành chính về khu vực trung tâm của địa giới mới, dự kiến tại khu vực Ma Lé, cần được nhìn như một câu chuyện quy hoạch dài hạn chứ không đơn thuần là xây một trụ sở mới.
Nếu được nghiên cứu thấu đáo, vị trí trung tâm hành chính có thể đồng thời giải quyết nhiều yêu cầu: thuận lợi hơn cho người dân giao dịch, tạo không gian phát triển hạ tầng, tổ chức lại hoạt động của bộ máy và giảm áp lực lên khu vực lõi cảnh quan, du lịch. Với một xã biên giới, bài toán ấy còn gắn với quốc phòng, an ninh và tổ chức không gian phát triển lâu dài.
Đây là loại vấn đề cần được đặt trên bàn ở cấp tỉnh, bởi nó vượt quá khả năng quyết định của một xã. Nhưng thực tiễn của Lũng Cú cho thấy chính cấp cơ sở mới là nơi nhận ra sớm nhất những bất cập của một mô hình tổ chức trong quá trình vận hành.

Kỳ II của loạt bài đã đi vào câu chuyện đánh giá cán bộ bằng kết quả, kiểm soát quyền lực bằng cơ chế. Nhưng sau hơn một năm, thực tiễn đặt thêm một câu hỏi khác: làm thế nào để có được đội ngũ đủ năng lực và đủ sức gắn bó lâu dài với cơ sở?

Lũng Cú cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị bằng các hoạt động khám sức khỏe định kỳ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Ở vùng cao, biên giới, việc thu hút và giữ cán bộ có chuyên môn không đơn giản. Khoảng cách địa lý, điều kiện sinh hoạt, áp lực công việc và yêu cầu ngày càng cao về quản trị khiến bài toán nhân lực không thể giải quyết chỉ bằng bố trí hành chính.
Bởi vậy, đề xuất về chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức công tác tại xã biên giới, vùng sâu, vùng xa cần được nhìn trong tổng thể của quá trình xây dựng chính quyền cơ sở. Chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc, đào tạo, bồi dưỡng và cơ hội phát triển nghề nghiệp đều tác động trực tiếp đến khả năng giữ người.
Câu chuyện của Vũ Văn Đoàn và Mùng Thị Nghiệp ở Kỳ I cho thấy một mặt của quá trình sắp xếp: những người rời vị trí đã được giải quyết chính sách, được đối thoại và tôn trọng lựa chọn. Nhưng mặt còn lại cũng rất rõ: sau khi bộ máy được tinh gọn, làm thế nào để đội ngũ ở lại đủ mạnh để đảm đương phần việc lớn hơn?
Đây là lý do đào tạo, bồi dưỡng không nên dừng ở các lớp học theo kế hoạch. Cấp xã đang cần những năng lực rất cụ thể: quản trị địa bàn rộng, xử lý công việc liên ngành, sử dụng dữ liệu, công nghệ, pháp luật chuyên ngành và kỹ năng làm việc với cộng đồng dân tộc thiểu số.
Nói cách khác, muốn chính quyền hai cấp vận hành tốt thì phải đầu tư cho năng lực của cấp thực thi, không chỉ đầu tư cho sơ đồ tổ chức.

Lũng Cú có những đặc thù không nơi nào hoàn toàn giống nơi nào. Nhưng chính những đặc thù ấy lại làm nổi rõ những vấn đề mà quá trình vận hành chính quyền hai cấp ở nhiều địa phương có thể gặp phải.

Lãnh đạo xã Lũng Cú đối thoại với nhân dân, lắng nghe và kịp thời tháo gỡ những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Sau sắp xếp, cấp xã phải gần dân hơn, nhưng cũng phải chuyên nghiệp hơn. Quyền hạn được đưa xuống nhiều hơn, nhưng trách nhiệm cũng rõ hơn. Công nghệ giúp rút ngắn thời gian xử lý, nhưng không thể thay thế cán bộ. Tinh gọn tổ chức tạo ra bộ máy mới, nhưng để bộ máy mạnh lên phải tiếp tục cơ cấu lại con người và phương thức làm việc.
Vì thế, điều cần tiếp tục hoàn thiện không phải là “một mô hình hoàn hảo” được thiết kế ngay từ đầu, mà là một cơ chế có khả năng tự điều chỉnh từ thực tiễn.
Cơ sở phải nói được những gì đang vướng. Cấp trên phải có kênh tiếp nhận và xử lý những vướng mắc ấy. Chính sách sau khi ban hành phải được kiểm nghiệm bằng thực tế; nơi nào chưa phù hợp thì phải tiếp tục sửa đổi. Đó cũng là cách nhìn phù hợp với bản chất của cải cách: không coi sắp xếp tổ chức là một đích đến, mà là quá trình xây dựng một nền quản trị hiệu quả hơn.
Ở Lũng Cú, sau hơn một năm, những câu hỏi ấy đã bắt đầu có câu trả lời từ thực tiễn. Bộ máy đã được tổ chức lại; phương thức lãnh đạo từng bước thay đổi; trách nhiệm của cán bộ được đặt rõ hơn; khoảng cách giữa chính quyền với người dân được rút ngắn, trong khi những cơ hội tiếp cận thông tin, việc làm và thị trường cũng dần mở rộng.
Nhưng cũng chính thực tiễn ấy cho thấy còn những việc không thể hoàn thành bằng nỗ lực của riêng cơ sở: chính sách cán bộ vùng biên giới, bố trí nhân lực chuyên môn, hạ tầng giao thông và viễn thông, các nền tảng số dùng chung, điều kiện phát triển kinh tế biên giới, quy hoạch không gian hành chính…
Những vấn đề ấy cần được tiếp tục giải quyết từ cấp tỉnh đến Trung ương, với một cách tiếp cận quan trọng: chính sách phải xuất phát từ những gì đang diễn ra ở nơi trực tiếp tổ chức thực hiện.

Nhìn lại chặng đường từ khi sáp nhập ba xã đến nay, có thể thấy Lũng Cú đã đi qua hai cuộc thay đổi nối tiếp nhau.

Niềm vui của thầy và trò dưới chân núi Rồng trong ngày đầu tựu trường, giữa những đổi thay sau khi ba xã hợp nhất thành xã Lũng Cú.
Cuộc thay đổi thứ nhất diễn ra trên bản đồ: ba xã thành một, nhiều đầu mối thành ít đầu mối.
Cuộc thay đổi thứ hai diễn ra trong cách làm việc: từ chờ hướng dẫn sang chủ động xử lý; từ quản lý theo kinh nghiệm sang chú trọng dữ liệu, tiến độ và kết quả; từ một không gian hành chính chia tách sang cách nhìn Lũng Cú như một địa bàn thống nhất.
Cuộc thay đổi thứ hai mới là cuộc thay đổi quyết định. Bởi sau cùng, người dân không đánh giá một cuộc cải cách bằng sơ đồ tổ chức. Họ đánh giá bằng việc đi làm thủ tục có thuận lợi không, kiến nghị có được lắng nghe không, đường sá có được sửa chữa không, sinh kế có tốt lên không, con em có được học hành đầy đủ không và chính quyền có xuất hiện đúng lúc khi người dân cần hay không. Đó cũng là thước đo đối với phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng và năng lực vận hành của chính quyền.
Từ Lũng Cú, bài học vì thế không nằm ở việc một xã đã sắp xếp được bao nhiêu đầu mối hay xây dựng được bao nhiêu mô hình. Điều đáng quan tâm hơn là sau sắp xếp, địa phương đã nhìn thấy rõ hơn mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm, giữa con người và công việc, giữa nguồn lực và nhiệm vụ, giữa quyết định của cấp trên và khả năng thực hiện ở cơ sở.
Nếu những mối quan hệ ấy tiếp tục được điều chỉnh theo hướng rõ việc, rõ quyền, rõ trách nhiệm và có đủ điều kiện thực hiện, chính quyền hai cấp sẽ không chỉ là một sự thay đổi về tổ chức hành chính. Nó sẽ trở thành một bước chuyển về phương thức quản trị.

Cột cờ Quốc gia Lũng Cú tung bay trên đỉnh núi Rồng, biểu tượng thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc.
Trên đỉnh núi Rồng, lá cờ Tổ quốc vẫn hiện diện như một dấu mốc không thay đổi giữa những biến động của địa giới và bộ máy. Còn dưới chân núi, giá trị của những thay đổi ấy phải được chứng minh bằng những điều giản dị hơn: bộ máy có làm được việc, cán bộ có gần dân hơn, những vấn đề đặt ra từ cuộc sống có được giải quyết tốt hơn hay không. Đó là phép thử sau sắp xếp. Và cũng là nơi một cuộc cải cách hành chính chỉ thực sự bắt đầu.
Hết loạt bài.

|
|
