
Nơi Cực Bắc Tổ quốc, khoảng cách không chỉ được đo bằng những cung đường quanh co giữa núi đá. Trong quản trị cơ sở còn tồn tại một khoảng cách khó nhìn thấy hơn: từ quyết định của cấp ủy đến hành động của chi bộ; từ phản ánh của người dân đến một câu trả lời thỏa đáng; từ nghị quyết đến kết quả hiện hữu trong đời sống. Với Lũng Cú, đổi mới phương thức lãnh đạo bắt đầu từ việc nhận diện những khoảng cách ấy và tìm cách rút ngắn chúng.

Từ nghị quyết đến cơ sở: lãnh đạo xã Lũng Cú trực tiếp nắm tình hình, lắng nghe ý kiến và cùng người dân tìm hướng tháo gỡ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Địa hình núi đá hiểm trở khiến khoảng cách giữa trung tâm xã và các thôn, bản ở Lũng Cú từng là một trở ngại hữu hình đối với công việc của bộ máy cơ sở. Có những nơi, để truyền đạt một văn bản, dự một cuộc họp hay xử lý một công việc, cán bộ phải vượt qua hàng chục kilômét đường đèo.

Những cung đường quanh co giữa núi đá Lũng Cú gợi lên một yêu cầu trong quản trị cơ sở: không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý, mà còn phải rút ngắn khoảng cách từ chủ trương đến hành động, từ chính quyền đến người dân.
Như ở thôn Nhù Sang, quãng đường gần 40 km quanh co giữa núi đá không chỉ tiêu hao thời gian di chuyển. Phía sau những cung đường ấy là một “độ trễ” trong quản trị: thông tin đến cơ sở chậm hơn, phản ánh mất thêm thời gian để chuyển tải, việc xử lý phải chờ đợi và không ít công việc bị kéo dài bởi chính khoảng cách địa lý.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt vấn đề ấy trong một hoàn cảnh mới. Khi các tầng nấc trung gian được tinh gọn, nhiều nhiệm vụ được chuyển trực tiếp về cấp xã. Khối lượng công việc tăng lên, yêu cầu xử lý nhanh hơn, trong khi chủ trương tinh gọn bộ máy không cho phép giải bài toán năng lực bằng cách đơn giản là tăng thêm con người.
Lũng Cú phải tìm một cách làm khác: không chỉ làm nhiều hơn, mà phải tổ chức công việc khoa học hơn, xử lý nhanh hơn và bám cơ sở sâu hơn.
Từ đó, “khoảng cách” được nhìn nhận theo một nghĩa rộng hơn khoảng cách địa lý. Đó là thời gian từ khi chủ trương được ban hành đến khi chi bộ nắm được và tổ chức thực hiện; thời gian từ khi một kiến nghị phát sinh đến khi được tiếp nhận, giải quyết; khoảng cách giữa một nghị quyết trên giấy với một chuyển biến có thể nhìn thấy trong đời sống.
Bài toán đặt ra không phải xóa những cung đường vốn đã tồn tại hàng trăm năm, mà là rút ngắn con đường mà thông tin, quyết định và trách nhiệm phải đi qua.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, vì thế, bắt đầu từ việc rút ngắn những “độ trễ” trong quản trị.

Phương thức điều hành dựa nhiều vào văn bản giấy, báo cáo thủ công và các cuộc họp tập trung từng phù hợp với điều kiện trước đây. Nhưng khi địa bàn rộng, giao thông cách trở, nhiệm vụ ngày càng nhiều, những phương thức ấy bộc lộ giới hạn. Lũng Cú lựa chọn chuyển đổi số như một phương tiện để tổ chức lại công việc.

Lũng Cú ra mắt Bản đồ du lịch thông minh, góp phần nâng cao trải nghiệm và khả năng tiếp cận thông tin cho du khách.
Văn bản được luân chuyển, xử lý, ký số trên hệ thống. Thông tin được cập nhật nhanh hơn. Hồ sơ có thể theo dõi thuận lợi hơn. Những thao tác hành chính mất nhiều thời gian được cắt giảm, để cán bộ có thêm quỹ thời gian dành cho công việc ở cơ sở.
Điều quan trọng là hiệu quả của sự thay đổi không được đo bằng số lượng phần mềm được đưa vào sử dụng, mà bằng chất lượng phục vụ Nhân dân.

Năm 2025, kết quả đánh giá 6 tiêu chí chất lượng phục vụ trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia của xã Lũng Cú đạt 94,11 điểm, xếp loại “Xuất sắc”, đứng thứ 19/124 xã, phường. Chỉ số công khai, minh bạch và chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đều đạt tuyệt đối 18/18 điểm.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, kết quả tiếp tục được nâng lên 95,72 điểm, xếp loại “Xuất sắc”, đứng thứ 9/124 xã, phường. Hai chỉ số công khai, minh bạch và hài lòng của người dân, doanh nghiệp tiếp tục đạt 18/18 điểm.
Từ thứ 19 lên thứ 9; từ 94,11 lên 95,72 điểm. Những con số ấy không chỉ phản ánh một kết quả xếp hạng. Quan trọng hơn, chúng cho thấy việc tổ chức lại quy trình, tăng khả năng kiểm soát tiến độ và nâng chất lượng phục vụ đã bắt đầu tạo ra kết quả có thể đo đếm.

Lãnh đạo xã Lũng Cú kiểm tra hoạt động tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, kịp thời nắm bắt và tháo gỡ những khó khăn trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.
Đồng chí Trần Đức Chung, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Lũng Cú, nhìn nhận:

Từ đây, công nghệ không còn là lớp vỏ hiện đại phủ lên cách làm cũ. Dữ liệu giúp nhìn thấy công việc; tiến độ giúp nhìn thấy trách nhiệm; kết quả giúp kiểm chứng năng lực thực thi. Đó mới là giá trị của chuyển đổi số đối với đổi mới phương thức lãnh đạo.

Nếu chuyển đổi số giúp rút ngắn khoảng cách thông tin, thì nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghị quyết và đời sống.

Sinh hoạt chi bộ ở Lũng Cú gắn với cụ thể hóa nghị quyết thành nhiệm vụ ở cơ sở.
Đảng ủy xã Lũng Cú đã ban hành kế hoạch, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc sinh hoạt chi bộ thường kỳ, sinh hoạt chuyên đề theo Chỉ thị số 50-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới. 100% chi bộ đăng ký triển khai thực hiện mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ bốn tốt”.
Cùng với đó, Đảng bộ xã đăng ký triển khai học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.
Điểm đáng chú ý không nằm ở việc tổ chức thêm bao nhiêu cuộc sinh hoạt, mà ở yêu cầu đặt ra đối với từng nội dung. Chi bộ phải là nơi chủ trương được cụ thể hóa thành nhiệm vụ; những vấn đề phát sinh từ thôn bản được đưa ra bàn bạc; trách nhiệm được phân công; kết quả được kiểm tra. Sinh hoạt chuyên đề không dừng ở quán triệt, mà phải hướng tới giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn.
Từ xây dựng Đảng đến phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh biên giới, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa, chuyển đổi số..., nội dung sinh hoạt được đặt trong yêu cầu chung: nói phải đi đôi với làm, nhiệm vụ phải có địa chỉ, trách nhiệm phải có người và kết quả phải được kiểm chứng.
Đó cũng là cách việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh được đưa ra khỏi phạm vi khẩu hiệu để trở thành yêu cầu đối với từng cán bộ, đảng viên.

Năm 2026, đồng chí Nguyễn Văn Toại, Bí thư Chi bộ thôn Ma Lé, được Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Năm 2026, đồng chí Nguyễn Văn Toại, Bí thư Chi bộ thôn Ma Lé, được Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Sự ghi nhận ấy không chỉ dành cho một cá nhân. Ở góc độ xây dựng Đảng, đó còn là minh chứng cho yêu cầu nêu gương được cụ thể hóa từ cơ sở.
Ở địa bàn biên giới, nơi quan hệ cộng đồng giữ vai trò đặc biệt, uy tín của người cán bộ không hình thành từ chức danh, mà được tạo dựng qua cách nói, cách làm và sự gương mẫu trong những việc cụ thể.

Chuyển đổi số chỉ thực sự có sức sống khi vượt khỏi phòng làm việc của cán bộ để đi vào từng tổ chức Đảng, từng thôn bản và từng hộ dân.
Tại thôn Mã Sồ, việc sử dụng Sổ tay đảng viên điện tử mở thêm một kênh kết nối giữa chi bộ với đảng viên. Thông tin, tài liệu và nội dung sinh hoạt được truyền tải thuận lợi hơn, nhất là trong điều kiện địa bàn rộng, giao thông cách trở.

Cái được rút ngắn ở đây không chỉ là thời gian đi lại. Đó là thời gian để chủ trương trở thành nhiệm vụ của chi bộ; để vấn đề được đưa ra bàn bạc; để quyết định được tổ chức thực hiện. Khoảng cách địa lý vẫn còn, nhưng khoảng cách thông tin đang được thu hẹp.

Lũng Cú cũng nhận rõ một thách thức khác: công nghệ càng phát triển, yêu cầu về năng lực số của con người càng lớn. Đưa VNeID, dịch vụ công hay các nền tảng số về cơ sở mới chỉ là bước đầu. Nếu người dân không biết sử dụng, nếu cán bộ không đủ kỹ năng, chính quyền số có thể vô tình tạo thêm một rào cản đối với những người vốn đã ở xa trung tâm dịch vụ. Vì vậy, Lũng Cú chọn cách làm rất cụ thể: cầm tay chỉ việc.

Một lớp tập huấn, nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển du lịch bền vững gắn với chuyển đổi số ở Lũng Cú.
Đảng ủy xã chỉ đạo thành lập Tổ công nghệ số của xã gồm 11 thành viên, đồng thời thành lập 37 Tổ công nghệ số tại thôn với 147 thành viên. Các tổ trực tiếp xuống địa bàn, hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng VNeID, truy cập phần mềm và các cổng dịch vụ công để thực hiện giao dịch. Thay vì chờ người dân tự tìm đến công nghệ, người biết công nghệ được đưa về tận nơi người dân cần.
Sau hơn một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cùng với việc hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ, Lũng Cú chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các lực lượng ở cơ sở. Từ ngày 1/7/2025 đến hết tháng 8/2026, xã phối hợp tổ chức 13 lớp bồi dưỡng với 485 lượt học viên, tập trung vào lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác Đảng, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân và bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Trong đó, 3 đồng chí được cử học Trung cấp lý luận chính trị hệ vừa học vừa làm; 1 đồng chí bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh đối tượng 2, 3 đồng chí đối tượng 3; Hội đồng Giáo dục quốc phòng-an ninh xã tổ chức bồi dưỡng đối tượng 4 cho 50 học viên.

Đáng chú ý, xã đã tổ chức 3 lớp tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với 61 người tham gia và 1 lớp “Bình dân học vụ số” với 145 người tham gia. Qua đó, từng bước nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ và người dân, đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp.
Tỷ lệ chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn tích hợp nội dung chuyển đổi số và kỹ năng số đạt 95%. Các cơ sở giáo dục sử dụng 08 nền tảng số của Việt Nam, gồm VNPT VnEdu, MISA EMIS, Google Classroom, Zoom/Microsoft Teams, Học bạ số, Khan Academy Vietnam...
Tỷ lệ thôn tổ chức định kỳ các buổi học cộng đồng về chuyển đổi số, kỹ năng số đạt 89%. 100% thôn, tương ứng 16/16 thôn, đã thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng. Đã có 2.540 người dân, hộ gia đình được hỗ trợ kỹ năng số tại nhà, đạt 97%. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khu vực công có hiểu biết về chuyển đổi số đạt 96%; 3.905 người trưởng thành được xác nhận đạt phổ cập tri thức chuyển đổi số trên nền tảng VNeID; tỷ lệ người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã có kiến thức cơ bản về công nghệ số đạt 88%.

Đảng bộ xã Lũng Cú được Ban Tổ chức cuộc thi Tỉnh Tuyên Quang tặng Giấy chứng nhận giải Nhì toàn tỉnh; thôn Sán Trồ cũng được chứng nhận giải Nhất toàn tỉnh.
Những kết quả ấy không chỉ dừng ở các con số. Trong cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu về chuyển đổi số và phong trào “Bình dân học vụ số” năm 2026 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Đảng bộ xã Lũng Cú được Ban Tổ chức cuộc thi Tỉnh Tuyên Quang tặng Giấy chứng nhận giải Nhì toàn tỉnh; thôn Sán Trồ cũng được chứng nhận giải Khuyến khích toàn tỉnh. Đây là những kết quả cho thấy chuyển đổi số đã từng bước đi vào nhận thức và hành động từ cấp xã đến từng thôn, bản.
Điều đáng chú ý là chuyển đổi số ở đây không chỉ nhằm số hóa quy trình. Mục tiêu sâu hơn là nâng năng lực của cả hệ thống và cộng đồng, để khoảng cách về địa lý không tiếp tục trở thành khoảng cách về cơ hội tiếp cận dịch vụ, thông tin và thị trường.

Nếu cần một minh chứng cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới phát huy sức dân, Lô Lô Chải là câu chuyện tiêu biểu.

Đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đại diện thôn Lô Lô Chải nhận vinh danh “Làng Du lịch tốt nhất thế giới năm 2025, tháng 10/2025 tại thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc
Năm 2025, thôn Lô Lô Chải vượt qua 270 hồ sơ đến từ 65 quốc gia để được vinh danh “Làng Du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”. Danh hiệu được vinh danh vào tháng 10/2025 tại thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Đến tháng 6/2026, Lô Lô Chải tiếp tục được nhận biểu trưng nhận diện thương hiệu “Làng Du lịch tốt nhất thế giới” của UN Tourism năm 2025.
Đằng sau danh hiệu quốc tế ấy là quá trình cộng đồng gìn giữ bản sắc và chủ động thay đổi cách làm du lịch.
Cấp ủy định hướng. Chính quyền tạo môi trường. Cán bộ đồng hành. Người dân trực tiếp làm du lịch và hưởng lợi từ những giá trị văn hóa của cộng đồng. Phương thức lãnh đạo vì thế không phải làm thay người dân, mà tạo không gian để sức dân được phát huy.
Công nghệ tiếp tục mở rộng không gian ấy. 100% homestay, nhà hàng trong thôn sử dụng mã QR để thanh toán không dùng tiền mặt; mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến trở thành kênh quảng bá hình ảnh làng, kết nối với du khách trong và ngoài nước.

Đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đại diện thôn Lô Lô Chải nhận vinh danh “Làng Du lịch tốt nhất thế giới năm 2025, tháng 10/2025 tại thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

Từ một làng văn hóa du lịch cộng đồng, Lô Lô Chải đang từng bước trở thành thương hiệu du lịch có sức lan tỏa quốc tế. Công nghệ giúp mở rộng thị trường, nhưng bản sắc mới là giá trị không thể sao chép.
Những nếp nhà, trang phục, lễ hội, tiếng nói, nghề thủ công và lối sống được cộng đồng gìn giữ chính là nền tảng để Lô Lô Chải vươn xa. Cách lãnh đạo hiệu quả ở đây không phải áp đặt một mô hình phát triển từ bên ngoài, mà là nhận ra giá trị vốn có trong cộng đồng, tổ chức lại nguồn lực và mở đường để giá trị ấy bước ra thị trường.

Chuyển đổi số ở Lũng Cú cũng đang làm thay đổi cách người dân nhìn về thị trường.

Sùng Mí Nhù (đội mũ) ngồi chính giữa, chụp ảnh với phong viên Nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tại thôn Tả Gia Khâu, anh Sùng Mí Nhù đưa tiếng khèn Mông truyền thống vượt khỏi không gian nương đá, kết nối tới thị trường Mỹ, Pháp, Thái Lan, Lào, Campuchia và Trung Quốc thông qua các nền tảng trực tuyến.
Ở Lô Lô Chải, chị Dìu Thị Hương chủ động xây dựng website quảng bá sản phẩm du lịch bản địa. Tại thôn Thèn Pả, cô gái trẻ Sùng Thị My tận dụng mạng xã hội như một “gian hàng số”, đưa nghệ thuật vẽ sáp ong và các sản phẩm nhuộm chàm thủ công đến với du khách.
Những câu chuyện ấy cho thấy một chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển: người dân vùng cao không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách. Họ có thể trở thành chủ thể sáng tạo, chủ thể kinh doanh và chủ thể quảng bá hình ảnh quê hương.
Khi phương thức lãnh đạo biết khơi đúng nguồn lực, công nghệ không còn là công cụ của riêng chính quyền. Nó trở thành phương tiện để người dân tự mở rộng cơ hội phát triển.

Lũng Cú không thần thánh hóa công nghệ. Một hệ thống dữ liệu có thể giúp người đứng đầu nhìn thấy tiến độ công việc, nhưng không thể tự giải quyết một tranh chấp đất đai. Cuộc họp trực tuyến có thể rút ngắn hàng chục kilômét đường đèo, nhưng không thể thay thế hoàn toàn người cán bộ xuống thôn, ngồi với dân và lắng nghe một vấn đề cụ thể.

Một buổi họp trực tuyến ở Lũng Cú
Ở vùng biên giới, điều ấy càng rõ. Cán bộ phải hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tâm lý cộng đồng; phải biết khi nào cần một văn bản, khi nào cần một cuộc họp và khi nào cần có mặt đúng lúc.
Vì vậy, mục tiêu của chuyển đổi số không phải để cán bộ “ngồi trong phòng điều hành bằng máy tính”. Công nghệ phải giúp giải phóng cán bộ khỏi công việc hành chính sự vụ, để họ có thêm thời gian bám cơ sở, nắm việc và nắm dân.
Dữ liệu giúp nhận biết vấn đề; sự hiện diện của người cán bộ quyết định cách vấn đề được giải quyết.
Đó là điểm gặp nhau giữa công nghệ và phương thức lãnh đạo: quản trị cần dựa trên dữ liệu, điều hành phải bám tiến độ, còn lãnh đạo phải bắt đầu từ con người và thực tiễn.

Từ sắp xếp tổ chức bộ máy ở Kỳ I, đổi mới công tác cán bộ và kiểm soát quyền lực ở Kỳ II đến đổi mới phương thức lãnh đạo ở Kỳ III, câu chuyện Lũng Cú cho thấy: đổi mới trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị chỉ có ý nghĩa khi tạo ra năng lực mới để phục vụ Nhân dân và giải quyết tốt hơn những vấn đề từ cơ sở.

Cột cờ Quốc gia Lũng Cú cùng hệ thống mốc giới nơi cực Bắc Tổ quốc.
Ở nơi địa hình từng tạo ra những khoảng cách hữu hình, công nghệ giúp rút ngắn thời gian truyền đạt, xử lý và phối hợp. Nhưng khoảng cách quan trọng hơn lại nằm trong cách cấp ủy nắm việc, cách chi bộ tổ chức thực hiện và cách cán bộ chịu trách nhiệm trước Nhân dân.
Bởi vậy, thước đo của đổi mới không phải là bộ máy có bao nhiêu hệ thống hiện đại, mà là chủ trương có đến được cơ sở hay không, nhiệm vụ có được thực hiện đến cùng hay không và kết quả có làm cho cuộc sống tốt hơn hay không.
Nơi chóp nón Cực Bắc, lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Lũng Cú là biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền quốc gia. Nhưng sức mạnh giữ gìn chủ quyền không chỉ hiện hữu trên những cột mốc đường biên. Nó còn được bồi đắp trong từng chi bộ vững mạnh, từng thôn bản bình yên, từng cán bộ tận tụy và sự đồng thuận của Nhân dân.
Chủ quyền quốc gia, xét đến cùng, cần một nền tảng xã hội bền vững. Ở đó, người dân tin vào chính quyền bởi những việc cụ thể được giải quyết; tin vào cán bộ bởi lời nói đi cùng hành động; tin vào tổ chức Đảng bởi nghị quyết được chuyển hóa thành những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống.
Đường đèo ở Lũng Cú vẫn quanh co. Núi đá vẫn dựng đứng. Khoảng cách địa lý vẫn còn đó. Điều thay đổi là cách hệ thống chính trị vượt qua những khoảng cách ấy để đưa chủ trương đến gần cuộc sống hơn, đưa chính quyền đến gần người dân hơn và đưa sức dân vào quá trình phát triển.
Không phải làm cho con đường trên bản đồ ngắn đi, mà làm cho con đường từ ý Đảng đến lòng dân ngắn lại.
Trên miền đá biên cương, những “cột mốc sống” vì thế không chỉ là một hình ảnh đẹp. Đó là những chi bộ thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ sở; những cán bộ lấy trách nhiệm và hiệu quả công việc làm thước đo; những người dân được trao cơ hội để tham gia, sáng tạo và làm chủ sự phát triển của quê hương.
Từ những cột mốc ấy, niềm tin được bồi đắp, thế trận lòng dân được củng cố, để Cực Bắc không chỉ vững vàng trên bản đồ chủ quyền mà còn vững chắc trong đời sống xã hội - góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Hết kỳ III

|
|
